Thứ Năm, 21 tháng 7, 2011

Tàu sân bay Trung Quốc và hệ luỵ khu vực


Tàu sân bay Trung Quốc sẽ gây ra những tác động gì đối với khu vực

Tàu sân bay tượng trưng cho khả năng tung sức mạnh quân sự theo đúng nghĩa và dường như không phù hợp với chính sách không can thiệp vào công việc của các nước khác như Trung Quốc thường tuyên bố.

Tàu sân bay sẽ làm tăng thêm những mối lo ngại hiện thời của các nước trong khu vực về sự thiếu minh bạch trong các quá trình điều hành của Chính phủ Trung Quốc trong đó có vai trò khó xác định của quân đội Trung Quốc trong quá trình hoạch định chính sách và việc Trung Quốc ngày càng sử dụng chính sách ngoại giao "sức mạnh mềm" để mở rộng ảnh hưởng toàn cầu. Sách trắng quốc phòng Ôxtrâylia năm 2009 kêu gọi Trung Quốc giải thích rõ hơn vì sao chương trình hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc dường như vượt khỏi mức độ cần thiết cho một cuộc xung đột về vấn đề Đài Loan. Có thể nói "xung quanh sự trỗi dậy kinh tế của Trung Quốc vẫn còn nhiều điều bất trắc".

Giới lãnh đạo Trung Quốc cho rằng nước này "hoàn toàn minh bạch về ý định chiến lược trong khi Mỹ vẫn giữ thái độ chiến tranh lạnh đối với Trung Quốc. Mỹ khăng khăng đòi quyền hoạt động của Máy bay quân sự cách bờ biển Trung Quốc 12 hải lý dù rằng vùng đặc quyền kinh tế đã tuyên bố của Trung Quốc là 200 hải lý (giống như của Mỹ và Nga trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh). Điều này đã gây ác cảm công khai giữa Hải quân Mỹ và Hải quân Trung Quốc trong hơn một thập kỷ. Những sự kiện xảy ra trong tương lai có trở nên nghiêm trọng hơn do sự can thiệp của lực lượng tàu sân bay Trung Quốc. Thực ra, 2 hoặc thậm chí 4 tàu sân bay Trung Quốc cũng sẽ không làm thay đổi ưu thế của 11 cụm lực lượng chiến đấu có tàu sân bay hiện đại của Hải quân Mỹ. Theo kinh nghiệm của Mỹ, phải có 3 tàu sân bay mới duy trì được một chiếc thường xuyên sẵn sàng làm nhiệm vụ trên biển.

Như vậy, sẽ phải nhiều năm nữa tàu Hải quân Trung Quốc mới có thể có khả năng duy trì sự có mặt thường xuyên của tàu sân bay trên biển. Một số người khác cho rằng các lực lượng vũ trang Mỹ sẽ duy trì ưu thế quân sự và công nghệ về chất lượng, đặc biệt là trên vũ trụ, và tàu sân bay Trung Quốc sẽ trở thành những mục tiêu mới cho máy bay và tên lửa hành trình của Mỹ.

Vì vậy, Trung Quốc cũng đang chú trọng phát triển những khả năng công nghệ bổ trợ và phi đối xứng để có thể đối phó hoặc vô hiệu hóa ưu thế quân sự áp đảo của Mỹ. Những khả năng này thường được gọi chung là "sát thủ triển" có lẽ bao gồm tên lửa hành trình đối hạm, tên lửa chống vệ tinh, các công nghệ tàng hình, na nô và tác chiến trong không gian điện tử. Vụ thử thành công tên lửa chống vệ tinh của Trung Quốc trong tháng 1/2007 và có thể còn có những khả năng bí mật khác làm tăng thêm mối lo ngại về ý đồ chiến lược của Bắc Kinh.

Một số người cho rằng trước mắt Trung Quốc chưa phát triển được những công nghệ này hoặc nếu có thì khả năng công nghệ mới của Mỹ vẫn có thể đánh bại. Số khác dự báo một trận "Chân Trâu Cảng công nghệ, (phù hợp với truyền thống chiến lược coi trọng yếu tố bất ngờ và nghi binh của Trung Quốc) trong đó Trung Quốc sử dụng những vũ khí bí mật có uy lực lớn làm tê liệt các hệ thống chỉ huy hay phá hủy các phương tiện chủ yếu của Mỹ. Tóm lại, có thể giả định rằng giống như một cường quốc quân sự, Trung Quốc đang tìm kiếm ưu thế về sức mạnh quân sự nhưng cho đến nay chưa biểu lộ bất kỳ ý đồ gây hấn nào.

Tầu sân bay Trung Quốc sẽ làm gì?

Trong năm 2004, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào mở rộng vai trò của hải quân Trung Quốc, bao gồm cả nhiệm vụ "bảo vệ lợi ích quốc gia đang ngày càng mở rộng của Trung Quốc và bảo vệ hòa bình thế giới". Như vậy, nhiệm vụ của hải quân Trung Quốc không chỉ tập trung vào vấn đề Đài Loan và chủ quyền biển mà mở rộng ra việc bảo vệ các đường hàng hải quốc tế ngày càng quan trọng. Vai trò của Trung Quốc những năm gần đây trong các tổ chức quốc tế, trong đó có việc ủng hộ các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (một sự chuyển biến so với chủ trương trước đó là kiên quyết không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác) và tham gia các hoạt động hợp tác chống cướp biển ở ngoài khơi Xômali, thể hiện ý đồ này.

Ảnh minh họa: datviet

Thiếu tướng Qian Lihua (Tiền Lập Hòa) Cục trưởng Cục Đối ngoại. Bộ Quốc phòng Trung Quốc, cho rằng "vấn đề không phải là ở chỗ có tàu sân bay hay không mà là làm gì với tàu sân bay" ông nói thêm "không như nước khác, chúng tôi sẽ không sử dụng (tàu sân bay) để thực hiện mục đích triển khai lực lượng toàn cầu hay mở rộng tầm với toàn cầu". Ông nói mục đích của tàu sân bay (Trung Quốc) là bảo vệ ngoài khơi. Tuy nhiên, tàu sân bay ít có tác dụng trong việc bảo vệ các vùng ven biển Trung Quốc hoặc trực tiếp tham gia chiến dịch đánh chiếm Đài Loan, vì có thể sử dụng máy bay cất cánh từ đất liền.

Tác dụng thực sự của tàu sân bay là yểm hộ trên không cho các lực lượng làm nhiệm vụ kiểm soát và bảo vệ vùng biển cách xa bờ biển Trung Quốc và ngoài tầm với của hỏa lực phòng không ở căn cứ trên đất liền. Với mục đích này, "các sĩ quan hải quân Trung Quốc thường nói đến việc phát triển ba hạm đội viễn dương, một làm nhiệm vụ tuần tra các vùng biển xung quanh Triều Tiên và Nhật, một hạm đội khác hoạt động xa hơn ra Tây Thái Bình Dương và hạm đội thứ ba bảo vệ Ấn Độ Dương và Eo biển Ma-lắc-ca. Tàu sân bay Trung Quốc có thể phát hiện và chặn đánh các lực lượng thù địch trên Thái Bình Dương, bảo vệ các đoàn tàu đi qua Eo biển Ma-lắc-ca, hay bảo vệ các căn cứ trong "Chuỗi Trân Châu" trên các đường hàng hải chiến lược của Trung Quốc và Ấn Độ Dương.

Ít có khả năng Trung Quốc sẽ sử dụng tàu sân bay trong hành động gây hấn vì rất có thể bị vũ khí của Mỹ tiêu diệt hoặc gây phản ứng leo thang của Mỹ hay các nước trong khu vực. Tuy nhiên, Trung Quốc có thể sử dụng tàu sân bay cho mục đích răn đe hay trì hoãn hoạt động can thiệp của tàu sân bay Mỹ, hoặc gây sức ép trong thời kỳ căng thẳng hay đang thương lượng đồng thời tránh đối đầu trực tiếp.

Theo cách nghĩ thông thường, Trung Quốc cũng có thể giành được ưu thế cục bộ trên biển ở chừng mực nào đó trước các lực lượng hải quân của Mỹ hay liên minh, hoặc đánh thắng một cuộc xung đột cục bộ trên biển, gắn ngày, cường độ cao để giành ưu thế chiến lược. Trong trường hợp này, tàu sân bay Trung Quốc sẽ gây ra sự hoài nghi về ưu thế trên biển của Mỹ ở Thái Bình Dương.

Tàu sân bay cũng hứa hẹn tạo cho Đảng Cộng Sản Trung Quốc vị thế mà hiện thời họ chưa đạt được tàu sân bay có thể được sử dụng cùng các công cụ kinh tế và văn hóa để thuyết phục và gây sức ép, chẳng hạn để bảo vệ các chiến hạm làm nhiệm vụ phong tỏ trước các mối đe dọa của máy bay, chiến hạm, và tàu ngầm đối tượng. Hơn nữa, tàu sân bay còn có thể phát huy tác dụng trong những tình huống khẩn cấp như sơ tán các cộng đồng giữa người Hoa ở khắp nơi trên thế giới hay can thiệp nhân đạo.

Theo một nghĩa nào đó một đội chiến đấu tàu sân bay có thể đóng vai trò một "đại hạm đội đỏ", (Great Red Fleet) để mở rộng ảnh hưởng và quyền lực của Trung Quốc giống như "đại hạm đội trắng" (Gret White Fleet) của Tổng thống Theodore Roasevelt năm 1907-1090. Ít nhất, tàu sân bay thể hiện sự có mặt ngày càng tăng của Trung Quốc trên Thái Bình Dương, do đó sẽ đòi hỏi sự thỏa hiệp của Mỹ và các nước khác trong khu vực. Dù ít có khả năng bùng nổ xung đột, tàu sân bay Trung Quốc cũng sẽ gây tác động tâm lý cũng như chiến thuật, và sẽ gây phức tạp cho những tính toán chiến lược của các nước khác.

Những nguy cơ phát sinh khi Trung Quốc có tàu sân bay

Năm 2008, một đô đốc hải quân Trung Quốc đề xuất với tư lệnh trưởng Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ việc phân chia Thái Bình Dương giữa hai nước khi Trung Quốc có tàu sân bay. Năm 2009, Trung Quốc tuyên bố lập trường cứng rắn hơn về vấn đề quần đảo Trường Sa, khăng khăng đòi giải quyết tranh chấp lãnh thổ trên cơ sở song phương, không đưa ra tòa án quốc tế. Hai sự việc này cho thấy Trung Quốc ngày càng tự tin về mặt ngoại giao và quyết tâm tránh những gì có thể cản trở việc thực hiện những ý đồ chiến lược của họ.

Mỹ tỏ ra thận trọng trước những ý đồ quân sự của Trung Quốc ở Thái Bình Dương và hiểu rõ tâm trạng lo âu của các nước trong khu vực. Về mặt quân sự, đáng lo ngại nhất là việc Trung Quốc mua sắm những vũ khí ngăn chặn hoạt động đi lại và kiểm soát các vùng biển. Về mặt chiến lược, nguy cơ đối với Mỹ là các nước trong khu vực có thể từ thái độ trung lập trong quan hệ Mỹ - Trung chuyển sang "ngả hẳn" về phía Trung Quốc như lời nhà chiến lược Ôxtrâylia Hugh White "như người Anh và người Trung Quốc đã nhận thấy một khi mất ưu thế kinh tế, thì ưu thế chiến lược cũng nhanh chóng mất theo".

Chính sách của Oasinhtơn sẽ vẫn là một biến số quan trọng đối với khu vực. Các nước trong khu vực sẽ theo dõi sát phản ứng của Mỹ khi Trung Quốc có tàu sân bay. Họ sẽ hành động một cách tự tin nếu Mỹ vẫn giữ vững ưu thế kinh tế và bảo đảm an ninh. Họ có thể trở nên do dự nếu Mỹ tỏ ra thiếu quyết tâm hoặc thiếu nhạy cảm trong quan hệ với Trung Quốc. Tình huống xấu nhất là phản ứng không rõ ràng của Mỹ có thể thúc đẩy Nhật tái vũ trang, hoặc chương trình hiện đại hóa hải quân hiện thời của các nước trong khu vực có thể thúc đẩy nhanh và trở thành một cuộc chạy đua vũ trang trên biển.

Trong năm 2007 hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ lần đầu tiên được tăng cường nhiều chiến hạm hơn so với hạm đội Đại Tây Dương. Tuy đây là một phản ứng quân sự thận trọng trong tình huống khẩn cấp, và nhằm trấn an các nước đồng minh, nhưng Trung Quốc có thể coi đó là hành động gây hấn thể hiện chính sách kiềm chế của Mỹ, do đó càng củng cố quyết tâm cạnh tranh của Bắc Kinh và có thể dẫn tới phản ứng chiến lược thù địch-làm tăng thêm nguy cơ căng thẳng giữa Hải quân Trung Quốc và Hải quân Mỹ. Việc tìm kiếm giải pháp cân bằng thỏa đáng sẽ vẫn khó khăn.

Tuy có lẽ không có khả năng xảy ra hành động xâm lấn trắng trợn của Trung Quốc trong khoảng một thập kỷ tới, nhưng tàu sân bay Trung Quốc hoạt động trên Biển Đông và Thái Bình Dương sẽ gặp tàu của Ôxtrâylia, Inđônêxia, Nhật, Malaixia, Xingapo, Hàn Quốc, Philíppin, Việt Nam và Mỹ. Các quốc gia này có những lợi ích mâu thuẫn nhau và luôn theo dõi hoạt động của nhau. Tàu sân bay Trung Quốc sẽ làm tăng thêm sự nghi ngờ và tình hình sẽ trở nên căng thẳng hơn.

Đã có nhiều cố gắng xây dựng lòng tin và phát triển những thỏa thuận song phương Trung-Mỹ nhưng không đạt được mấy kết quả. Mọi cố gắng đều chưa tìm ra được biện pháp lâu dài hay hiệu quả để giải quyết những cuộc khủng hoảng giữa hai nước. Một số người lo ngại rằng giữa Mỹ và Trung Quốc chưa có thỏa thuận về việc giải quyết "đụng độ trên biển" để tháo ngòi nổ cho tình hình căng thẳng như giữa Mỹ và Liên Xô từ năm 1972. Tình hình trên biển trong tương lai có thể trở nên căng thẳng do nhưng cuộc tranh chấp lâu đời, do Đảng Cộng sản Trung Quốc kích động tình cảm dân tộc chủ nghĩa, hoặc do nhưng nguyên nhân tưởng chừng không quan trọng nào đó. Sự có mặt của tàu sân bay Trung Quốc có thể làm tăng mức độ nghiêm trọng (và sự lo ngại) và làm tăng nguy cơ leo thang một cách không cố ý.

Những hậu quả không cố ý do sự có mặt của tàu sân bay Trung Quốc gây ra là mối đe dọa lớn nhất đối với sự hòa thuận của khu vực trong những thập kỷ tới. Nếu không có sự thỏa thuận về cơ chế giải quyết những vụ đụng độ trên biển thì không thể thực hiện được ý tưởng "vùng biển hòa thuận" giữa hải quân có tàu sân bay của Trung Quốc và hải quân các nước khác ở Biển Đông và Thái Bình Dương

  • Hà Anh lược dịch từ Tạp chí Mỹ JFQ, Quí 4/2010

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét